1. Mẹo: Khi đăng bài tư vấn Khách hãy thêm vào trong bài viết @Bác sỹ trực tuyến hoặc @Bác sĩ Phượng để câu hỏi sẽ được thông báo ngay tới Bác sỹ trực tuyến nhé!
    Bạn có thể thông qua hotline: 1900.54.55.18 để được tư vấn nhanh nhất

Hỏi Cơ thể có nhiều vết bầm tím không rõ nguyên nhân

Thảo luận trong 'Tim mạch' bắt đầu bởi phamtrang, 30 Tháng năm 2012.

  1. phamtrang

    phamtrang Khách

    Điểm:
    MÃ: 4129
    trên cơ thể tôi thường xuất hiện những vết bầm tím không rõ nguyên nhân. có khi là 1 vết nhỏ có khi lại là những vết lớn mặc dù tôi không va chạm ở đâu nhưng vẫn có những vết bầm như vậy. không biết tôi bị j?
  2. Songmaivoianh

    Songmaivoianh Thành viên tích cực

    Bài viết:
    744
    Được Thích:
    51
    Điểm:
    9,269
    Nếu không phải là do va đập mà vẫn xuất hiện các vết bầm tím, thì rất có thể bạn mắc một số bệnh ở hệ tuần hoàn, như xuất huyết giảm tiểu cầu chẳng hạn. Bệnh lý ở hệ tuần hoàn nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì khả năng khỏi bệnh rất cao. Vậy nên bạn cần đi khám sớm để được điều trị thích hợp nhé!
  3. phamtrang

    phamtrang Khách

    Điểm:
    thanks

    cám ơn bác sĩ . nhưng nếu để lâu thì có di chứng j ko ạ.
  4. Bác sĩ Phượng

    Bác sĩ Phượng Thành viên tích cực

    Bài viết:
    2,176
    Được Thích:
    81
    Điểm:
    31,822
    Chào bạn.

    Có rất nhiều nguyên nhân gây bầm tím trên da, ngoài chấn thương, va đập còn có thể do các bệnh lý như bệnh Scobut hay còn gọi là bệnh thiếu vitamin C, do những nguyên nhân gây rối loạn quá trình đông máu như giảm số lượng hoặc chất lượng tiểu cầu, rối loạn các yếu tố đông máu hoặc tổn thương thành mạch mắc phải. Vết bầm máu có thể nhỏ hoặc lớn tuỳ theo mức độ tổn thương mạch máu, thông thường sau 2 đến 5 ngày các vết bầm này sẽ thay đổi màu sắc từ màu đỏ sậm qua màu xanh rồi màu vàng và từ từ biến mất.

    Để cải thiện và mau hết vết bầm tím bạn có thể chườm lạnh trong vòng 24 giờ khi xuất hiện vết bầm tím, còn nếu sang ngày hôm sau thì nên chườm nóng, mục đích là giúp mạch máu co lại, khiến vết thương giảm viêm, giảm sưng, giảm chảy máu. Bạn nên uống bổ sung vitamin C, có thể uống dưới dạng bổ sung, một năm uống 2-3 đợt, mỗi đợt kéo dài 10 đến 20 ngày.

    Nếu vết bầm tím xuất hiện thường xuyên không rõ nguyên nhân, bạn nên đi khám tại các bệnh viện đa khoa, làm thêm xét nghiệm để điều trị theo nguyên nhân sẽ hiệu quả hơn.

    Chúc bạn sức khỏe!
    Last edited: 31 Tháng năm 2012
  5. phamtrang

    phamtrang Khách

    Điểm:
    cám ơn bác sĩ. Tôi có 1 vấn đề nữa muốn hỏi. trước đây tôi thấy hơi mệt và có đi khám tại bệnh viện thì các bác sĩ cho tôi biết tôi bị rối loạn nhịp tim. nhưng dạo gần đây tôi thường xuyên bị nhói rất là mệt . đôi khi thở ko được . nhưng ngồi ngỉ và thở đều 1 chút thì trở lại bình thường. vì tính chất công việc nên tôi chưa đến bệnh viện khám được. bác sĩ có thể tư vấn cho tôi. bệnh rối loạn nhịp tim có gây ảnh hưởng j nặng không?(tiền sử nhà ngoại tôi ông bà cậu dì có mắc bệnh tim ) và công việc của tôi có nhiều áp lực sẽ bị ảnh hưởng đến tim nhiều không? tôi có nên dùng thuốc gì cho những lúc bị như vây??????
  6. msquysieuquay

    msquysieuquay Moderator

    Bài viết:
    290
    Được Thích:
    62
    Điểm:
    4,870
    Rối loạn nhịp tim: nguyên nhân và cách phòng tránh

    Các biểu hiện của rối loạn nhịp timMột số rối loạn nhịp tim không gây biểu hiện gì, tuy nhiên phần lớn các bệnh rối loạn nhịp tim đều có các biểu hiện rất rõ bằng các dấu hiệu:
    Với loạn nhịp tim nhanh và nhịp không đều
    Hồi hộp, đánh trống ngực: nhịp tim đập dồn dập hoặc đập tăng dần.
    Hụt hẫng: nhịp tim đập cách quãng trong giây lát.
    Khó thở - thở nhanh nông: nhịp tim đập loạn xạ, hay nhiều nhịp cách quãng xuất hiện trong thời gian ngắn.
    Một số biểu hiện hay gặp khác: đau ngực, choáng váng, hoa mắt, đau đầu nhẹ dai dẳng.
    Khi nhịp tim đột ngột đập nhanh loạn xạ có thể là báo hiệu của rung thất đe dọa tính mạng bệnh nhân.
    Với loạn nhịp tim chậm
    Các biểu hiện kín đáo hơn: mệt mỏi triền miên, hoa mắt choáng váng, đau đầu nhẹ dai dẳng, có thể ngất. Phần lớn các bệnh nhân rối loạn nhịp tim bị ngất đột ngột mà không có dấu hiệu báo trước. Tuy nhiên đôi khi người bệnh thấy được một số biểu hiện báo trước: hoa mắt, chóng mặt; nhìn thấy quầng xanh trước mắt; vã mồ hôi; nôn hoặc buồn nôn; chướng bụng; đánh trống ngực; đau đầu; lú lẫn hay khó diễn đạt suy nghĩ.
    Nguyên nhân gây ra rối loạn nhịp tim
    Mọi người đều từng trải qua cảm giác tim của mình đập rối loạn trong một khoảnh khắc nào đó, tuy nhiên sự xuất hiện đó qua đi và không ảnh hưởng đến cuộc sống. Nhưng cũng có những rối loạn nhịp tim tồn tại, ảnh hưởng hoặc gây nguy hiểm đến cuộc sống do đó cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
    Nguyên nhân gây rối loạn nhịp tim có thể chia ra là nguyên nhân bẩm sinh và nguyên nhân mắc phải:
    Nguyên nhân bẩm sinh: Biểu hiện bệnh có thể từ nhỏ hoặc xuất hiện trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc sống.
    Nguyên nhân mắc phải: bệnh lý cơ tim, van tim và một số nguyên nhân khác tác động tới hệ thần kinh tim, dẫn tới các hoạt động bất thường của hệ thần kinh tim.
    Một số rối loạn nhịp tim hay gặp
    Rối loạn nhịp nhanh trên thất, có thể gặp các biểu hiện như:
    Nhịp nhanh nhĩ: Xuất hiện một ổ phát nhịp khác với nút xoang ở tâm nhĩ, nó phát ra các xung động lấn át xung động từ nút xoang làm tim đập rất nhanh, không đều.
    Rung nhĩ: Tâm nhĩ co bóp loạn xạ và rất nhanh lên đến trên 350 nhịp/phút, đồng thời làm cho tâm thất co bóp nhanh và không đều. Loạn nhịp này dễ dẫn đến các rối loạn nhịp khác. Rung nhĩ gây biểu hiện mệt mỏi mạn tính, suy tim ứ máu và nguy cơ đột quỵ cao hơn 5 lần so với người không bị rung nhĩ.
    Cuồng nhĩ: Là tình trạng tâm nhĩ đập rất nhanh, thậm chí lên đến 300 nhịp/phút và hậu quả là tim đập rất nhanh và không đều.
    Nhịp xoang nhanh: Nhịp xoang nhanh thường gặp trong lúc lo lắng hay tập luyện, khi nghỉ ngơi thì nhịp sẽ trở lại bình thường. Trong một số bệnh như sốt cao, thiếu máu hay cường tuyến giáp cũng có nhịp nhanh xoang và khi bệnh được điều trị nhịp tim cũng sẽ trở lại bình thường.
    Nhịp nhanh thất do rung thất.
    Rối loạn nhịp nhanh thất
    Nhịp nhanh thất tự phát: Do một nhóm tế bào tại tâm thất phát ra xung động kích thích tâm thất co bóp, làm tâm thất co bóp không đều với tâm nhĩ.
    Nhịp nhanh thất do bệnh tim thiếu máu cục bộ: Vùng cơ tim bị thiếu máu trong bệnh mạch vành gây ra vết sẹo, vết sẹo này tạo nên những đường dẫn truyền xung động bất thường trong tâm thất, kích thích tâm thất co bóp mà không cần xung động từ tâm nhĩ chuyển xuống.
    Với hai tổn thương trên, tâm thất đều co bóp khi chưa chứa đủ máu, do đó tim đập rất nhanh mà máu vẫn không được bơm đủ ra hệ tuần hoàn. Bệnh nhân thường cảm thấy mệt mỏi, khó tập trung, thở nhanh. Nếu không điều trị kịp thời dễ xuất hiện rung thất.
    Rối loạn nhịp chậm
    Khi nhịp tim chậm xuống dưới 60 nhịp/phút, có nguy cơ không cung cấp đủ máu ra hệ tuần hoàn, tuy nhiên với những người thường xuyên hoạt động thể thao, nhịp tim của họ có thể thấp dưới 60 nhịp/phút.
    Rối loạn nhịp chậm có thể không gây biểu hiện gì rõ rệt, có thể xuất hiện những biểu hiện sau: mệt mỏi, chóng mặt, choáng váng, đau đầu, thở nông, hoặc ngất.
    Rối loạn nhịp chậm chia ra hai loại chính:
    - Suy yếu nút xoang: Suy yếu nút xoang không phải là một bệnh đặc trưng, nó thể hiện bằng một nhóm các triệu chứng thể hiện nút xoang không duy trì hoạt động bình thường. Nhịp tim có thể chuyển luân phiên từ rối loạn nhịp chậm sang nhịp nhanh.
    - Blốc nhĩ thất: Blốc nhĩ thất là hiện tượng xung động bị cản trở khi đi từ tâm nhĩ xuống tâm thất.
    Về điều trị: Tùy theo từng nguyên nhân gây rối loạn nhịp tim mà có cách điều trị như: dùng thuốc, can thiệp tim mạch hay phẫu thuật. Dù là phương pháp điều trị nào thì bệnh nhân cũng phải thực hiện các thói quen tốt trong cuộc sống như: tập luyện, không hút thuốc lá, chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.
    Phòng tránh rối loạn nhịp tim bằng cách nào?
    - Lựa chọn một thói quen sống tốt: tập luyện thường xuyên, ăn ít chất mỡ, ăn nhiều rau và các thực phẩm chứa nhiều vitamin, duy trì cân nặng ở mức cho phép.
    - Không hút thuốc lá.
    - Hạn chế dùng các chất kích thích với tim như: cà phê, rượu.
    - Tránh các căng thẳng, bảo đảm đủ thời gian nghỉ ngơi.
    - Kiểm tra sức khỏe định kỳ.
    - Điều trị tốt các bệnh lý liên quan: bệnh xơ vữa mạch, mỡ máu cao, bệnh mạch vành, bệnh van tim, bệnh tuyến giáp...
    Theo Sức khỏe & đời sống
  7. msquysieuquay

    msquysieuquay Moderator

    Bài viết:
    290
    Được Thích:
    62
    Điểm:
    4,870
    Rối loạn nhịp tim: nguyên nhân và cách phòng tránh

    Các biểu hiện của rối loạn nhịp timMột số rối loạn nhịp tim không gây biểu hiện gì, tuy nhiên phần lớn các bệnh rối loạn nhịp tim đều có các biểu hiện rất rõ bằng các dấu hiệu:
    Với loạn nhịp tim nhanh và nhịp không đều
    Hồi hộp, đánh trống ngực: nhịp tim đập dồn dập hoặc đập tăng dần.
    Hụt hẫng: nhịp tim đập cách quãng trong giây lát.
    Khó thở - thở nhanh nông: nhịp tim đập loạn xạ, hay nhiều nhịp cách quãng xuất hiện trong thời gian ngắn.
    Một số biểu hiện hay gặp khác: đau ngực, choáng váng, hoa mắt, đau đầu nhẹ dai dẳng.
    Khi nhịp tim đột ngột đập nhanh loạn xạ có thể là báo hiệu của rung thất đe dọa tính mạng bệnh nhân.
    Với loạn nhịp tim chậm
    Các biểu hiện kín đáo hơn: mệt mỏi triền miên, hoa mắt choáng váng, đau đầu nhẹ dai dẳng, có thể ngất. Phần lớn các bệnh nhân rối loạn nhịp tim bị ngất đột ngột mà không có dấu hiệu báo trước. Tuy nhiên đôi khi người bệnh thấy được một số biểu hiện báo trước: hoa mắt, chóng mặt; nhìn thấy quầng xanh trước mắt; vã mồ hôi; nôn hoặc buồn nôn; chướng bụng; đánh trống ngực; đau đầu; lú lẫn hay khó diễn đạt suy nghĩ.
    Nguyên nhân gây ra rối loạn nhịp tim
    Mọi người đều từng trải qua cảm giác tim của mình đập rối loạn trong một khoảnh khắc nào đó, tuy nhiên sự xuất hiện đó qua đi và không ảnh hưởng đến cuộc sống. Nhưng cũng có những rối loạn nhịp tim tồn tại, ảnh hưởng hoặc gây nguy hiểm đến cuộc sống do đó cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
    Nguyên nhân gây rối loạn nhịp tim có thể chia ra là nguyên nhân bẩm sinh và nguyên nhân mắc phải:
    Nguyên nhân bẩm sinh: Biểu hiện bệnh có thể từ nhỏ hoặc xuất hiện trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc sống.
    Nguyên nhân mắc phải: bệnh lý cơ tim, van tim và một số nguyên nhân khác tác động tới hệ thần kinh tim, dẫn tới các hoạt động bất thường của hệ thần kinh tim.
    Một số rối loạn nhịp tim hay gặp
    Rối loạn nhịp nhanh trên thất, có thể gặp các biểu hiện như:
    Nhịp nhanh nhĩ: Xuất hiện một ổ phát nhịp khác với nút xoang ở tâm nhĩ, nó phát ra các xung động lấn át xung động từ nút xoang làm tim đập rất nhanh, không đều.
    Rung nhĩ: Tâm nhĩ co bóp loạn xạ và rất nhanh lên đến trên 350 nhịp/phút, đồng thời làm cho tâm thất co bóp nhanh và không đều. Loạn nhịp này dễ dẫn đến các rối loạn nhịp khác. Rung nhĩ gây biểu hiện mệt mỏi mạn tính, suy tim ứ máu và nguy cơ đột quỵ cao hơn 5 lần so với người không bị rung nhĩ.
    Cuồng nhĩ: Là tình trạng tâm nhĩ đập rất nhanh, thậm chí lên đến 300 nhịp/phút và hậu quả là tim đập rất nhanh và không đều.
    Nhịp xoang nhanh: Nhịp xoang nhanh thường gặp trong lúc lo lắng hay tập luyện, khi nghỉ ngơi thì nhịp sẽ trở lại bình thường. Trong một số bệnh như sốt cao, thiếu máu hay cường tuyến giáp cũng có nhịp nhanh xoang và khi bệnh được điều trị nhịp tim cũng sẽ trở lại bình thường.
    Nhịp nhanh thất do rung thất.
    Rối loạn nhịp nhanh thất
    Nhịp nhanh thất tự phát: Do một nhóm tế bào tại tâm thất phát ra xung động kích thích tâm thất co bóp, làm tâm thất co bóp không đều với tâm nhĩ.
    Nhịp nhanh thất do bệnh tim thiếu máu cục bộ: Vùng cơ tim bị thiếu máu trong bệnh mạch vành gây ra vết sẹo, vết sẹo này tạo nên những đường dẫn truyền xung động bất thường trong tâm thất, kích thích tâm thất co bóp mà không cần xung động từ tâm nhĩ chuyển xuống.
    Với hai tổn thương trên, tâm thất đều co bóp khi chưa chứa đủ máu, do đó tim đập rất nhanh mà máu vẫn không được bơm đủ ra hệ tuần hoàn. Bệnh nhân thường cảm thấy mệt mỏi, khó tập trung, thở nhanh. Nếu không điều trị kịp thời dễ xuất hiện rung thất.
    Rối loạn nhịp chậm
    Khi nhịp tim chậm xuống dưới 60 nhịp/phút, có nguy cơ không cung cấp đủ máu ra hệ tuần hoàn, tuy nhiên với những người thường xuyên hoạt động thể thao, nhịp tim của họ có thể thấp dưới 60 nhịp/phút.
    Rối loạn nhịp chậm có thể không gây biểu hiện gì rõ rệt, có thể xuất hiện những biểu hiện sau: mệt mỏi, chóng mặt, choáng váng, đau đầu, thở nông, hoặc ngất.
    Rối loạn nhịp chậm chia ra hai loại chính:
    - Suy yếu nút xoang: Suy yếu nút xoang không phải là một bệnh đặc trưng, nó thể hiện bằng một nhóm các triệu chứng thể hiện nút xoang không duy trì hoạt động bình thường. Nhịp tim có thể chuyển luân phiên từ rối loạn nhịp chậm sang nhịp nhanh.
    - Blốc nhĩ thất: Blốc nhĩ thất là hiện tượng xung động bị cản trở khi đi từ tâm nhĩ xuống tâm thất.
    Về điều trị: Tùy theo từng nguyên nhân gây rối loạn nhịp tim mà có cách điều trị như: dùng thuốc, can thiệp tim mạch hay phẫu thuật. Dù là phương pháp điều trị nào thì bệnh nhân cũng phải thực hiện các thói quen tốt trong cuộc sống như: tập luyện, không hút thuốc lá, chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.
    Phòng tránh rối loạn nhịp tim bằng cách nào?
    - Lựa chọn một thói quen sống tốt: tập luyện thường xuyên, ăn ít chất mỡ, ăn nhiều rau và các thực phẩm chứa nhiều vitamin, duy trì cân nặng ở mức cho phép.
    - Không hút thuốc lá.
    - Hạn chế dùng các chất kích thích với tim như: cà phê, rượu.
    - Tránh các căng thẳng, bảo đảm đủ thời gian nghỉ ngơi.
    - Kiểm tra sức khỏe định kỳ.
    - Điều trị tốt các bệnh lý liên quan: bệnh xơ vữa mạch, mỡ máu cao, bệnh mạch vành, bệnh van tim, bệnh tuyến giáp...
    Theo Sức khỏe & đời sống

Chia sẻ trang này

Từ khóa đã tìm đến trang này:

  1. bầm tím không rõ nguyên nhân

    ,
  2. bị bầm tím không rõ nguyên nhân

    ,
  3. tu nhien xuat hien vet bam tim tren da

    ,
  4. xuất hiện nhiều vết bầm trên người,
  5. da bi bam khong ro nguyen nhan,
  6. nhiêu vết bầm tím ở chân không rõ nguyên nhân,
  7. hien tuong co vet bam tim tren co the,
  8. xuat hien vet tham tim o chan,
  9. nguyen nhan cua viec hay bi tham tim da,
  10. nguoi co nhieu vet bam