Nguyên nhân gây thiểu ối và cách phòng ngừa

Nước ối giữ một vai trò quan trọng đối với sự sống và phát triển của thai nhi trong tử cung. Thiểu ối hay tình trạng nước ối ít sẽ gây nguy hiểm đến cả mẹ và thai nhi.

Vai trò của nước ối

Nước ối là một môi trường giàu chất dinh dưỡng, có khả năng tái tạo và trao đổi, giữ một vai trò quan trọng đối với sự sống và phát triển của thai nhi trong tử cung. Ở giai đoạn đầu thai nhi, chúng có tác dụng nuôi dưỡng phôi thai, cân bằng dịch nội và ngoại bào, khi thai lớn dần, nước ối bảo vệ thai, tránh những va chạm, sang chấn, nhiễm trùng, giúp thai phát triển hài hòa, bình chỉnh ngôi thai.

Khi thai vào chuyển dạ nước ối giúp cho cổ tử cung xóa mở tốt và giúp cho thai nhi sổ ra được dễ dàng nhờ chất bôi trơn thành âm đạo có trong nước ối. Nước ối xuất hiện từ ngày thứ 12 sau thụ thai.

Nước ối nuôi dưỡng và bảo vệ thai

Nước ối có từ đâu?

Nước ối xuất hiện từ ngày thứ 12 sau thụ tinh. Lúc đó, buồng ối nằm độc lập trong mầm phôi, chứa dịch kẽ của phôi. Từ ngày thứ 12 đến ngày thứ 28 sau thụ tinh, tuần hoàn nhau thai được thành lập, có sự thẩm thấu giữa tuần hoàn và nước ối.

Sau đó, nước ối được tạo thành từ 3 nguồn gốc thai nhi, màng ối và mẹ:

– Trong giai đoạn đầu, da thai nhi có liên quan đến sự tạo thành nước ối. Khoảng 20-28 tuần, đường này mới chấm dứt.

– Từ tuần 20, xuất hiện nguồn nước ối từ khí phế quản, do huyết tương của thai nhi thẩm thấu qua niêm mạc hô hấp.

– Nguồn nước ối quan trọng nhất từ thai nhi là đường niệu, xuất hiện từ tháng thứ tư. Do đó, bắt buộc phải khảo sát hệ niệu của thai nhi khi có tình trạng thiểu ối.

– Màng ối bao phủ bánh nhau và dây rốn cũng tiết ra nước ối.

– Có một sự trao đổi qua màng ối những chất giữa máu mẹ và nước ối.

Sự tái hấp thu nước ối được thực hiện chủ yếu qua hệ tiêu hóa thai kỳ. Từ tuần thứ 20, thai nuốt nước ối.

Như vậy, có hiện tượng tuần hoàn của nước ối. Nước ối luôn được tái tạo. Vào cuối thai kỳ, nước ối đổi mới mỗi 3 giờ. Sự tái tạo này tăng dần khi thai đủ tháng và giảm dần sau đó.

Nguyên nhân gây thiểu ối:

– Nguyên nhân do thai: dị tật thai nhi như bất sản thận. Trong tình trạng thai chậm tăng trưởng trong tử cung có tình trạng thiểu ối.

– Nguyên nhân mẹ: mẹ có tình trạng thiếu oxy dẫn tới suy tuần hoàn nhau thai.

– Khoảng 30% không tìm thấy nguyên nhân.

Các dấu hiệu đánh giá thiểu ối

Biểu hiện tình trạng thiểu ối thường nghèo nàn, cảm giác của các bà mẹ theo dõi thấy thai giảm cử động, thấy bụng không lớn. Khi đo bề cao tử cung thấy tăng chậm, cảm giác phần thai thấy sát da bụng khi sờ nắn.

Khi siêu âm thai xác định rõ thiểu ối, bằng chỉ số ối khi đo bốn khoang ối trên tử cung thành bụng của người mẹ giảm dưới 6cm trở đi, khoang ối bình thường đo được từ 8 – 20cm, khi ở tuổi thai từ 35 – 40 tuần.

Mức độ thiểu ối gồm có 3 mức độ; thiểu ối trung bình khi chỉ số ối đo được 5 – 7cm; thiểu ối nặng, chỉ số đo được 3 – 5cm; kết luận vô ối khi chỉ số đo được <3cm. Khi siêu âm xác định thiểu ối cần khảo sát thêm các tình trạng bất thường của thai nhi cũng như tình trạng nhau và dây rốn.

Khi đánh giá thiểu ối ở từng giai đoạn thai kỳ thì có mối liên quan chặt chẽ đến khả năng tiên lượng của thai nhi: thiểu ối ở giai đoạn 3 tháng đầu nguy cơ sảy thai 65 – 80%, thiểu ối trong 3 tháng giữa nguy cơ dị tật thai chiếm cao, thiểu ối trong 3 tháng cuối của thai kỳ khả năng thai nhi suy dinh dưỡng, bệnh lý của mẹ đi kèm thường gặp, đôi khi cũng không tìm được nguyên nhân thiểu ối ở giai đoạn này.

Cách điều trị

Tùy thuộc vào từng giai đoạn của thai nhi mà chúng ta có hướng điều trị thiểu ối.

Thiểu ối trong ba tháng đầu: trường hợp mức độ trung bình và nặng thì khả năng bệnh lý thai nhi cao, nguyên nhân từ trong trứng phôi và bệnh lý nặng nề của người mẹ. Cần xác định nguyên nhân, có thể chấm dứt thai kỳ một khi phát hiện nguyên nhân từ mẹ hay từ phôi thai, sau đó cần điều trị nguyên nhân một cách triệt để, đặc biệt là bệnh lý từ mẹ.

Thiểu ối trong ba tháng giữa: cần xác được nguyên nhân gây ra thiểu ối, đặc biệt là bệnh lý bất sản hệ niệu của thai nhi hay đi kèm dị tật bẩm sinh nặng cần thiết có thể chấm dứt thai kỳ, một khi đã xác định rõ nguy cơ dị tật nhiều và mức độ nặng.

Thiểu ối 3 tháng cuối thai kỳ: nằm nghỉ, uống nhiều nước mỗi ngày trung bình 3 lít nước khoáng hoặc nhập viện truyền dịch để tăng lưu lượng máu đến tử cung. Nonstresstest, siêu âm đo chỉ số ối 1 – 2 lần/tuần cho đến lúc sinh. Cho corticosteroids ở tuổi thai 34 tuần trở đi. Chấm dứt thai kỳ khi thai được 37 tuần hay các xét nghiệm đánh giá sức khỏe thai không đảm bảo.

Cách phòng ngừa

Cách tốt nhất đối với các bà mẹ trước khi mang thai, cần điều trị khỏi hẳn hay ổn định hẳn những bệnh lý nội khoa, rồi mới có thai. Khám thai định kỳ đúng theo sự chỉ dẫn của BS sản khoa, để phát hiện sớm và điều trị kịp thời những điều bất trắc có thể xảy ra trong thai kỳ.

Tập thói quen uống nhiều nước mỗi ngày trung bình 2 lít/ngày như nước khoáng, nước trái cây. Đây là biện pháp phòng ngừa được tình trạng nước ối ít hay thiểu ối, đặc biệt là những thai kỳ trong 3 tháng cuối. Kết hợp dinh dưỡng đầy đủ chất mỗi ngày.

(Tổng hợp từ Sức khỏe đời sống và Tuổi trẻ)

Tin bổ ích khác

Thiếu vitamin A gây hậu quả gì? Thiếu vitamin A và hậu quả của nó là một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, trẻ em là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất và tình ...
Nguyên nhân thiểu ối khi mang thai Nước ối là môi trường dưỡng chất ở thể lỏng, chứa trong buồng ối của thai phụ. Nước ối xuất hiện trong khoảng thời gian từ ngày 12-28 sau khi thụ thai...