Những loại thuốc dùng chữa nhiệt miệng hiệu quả

Có rất nhiều thuốc chữa nhiệt miệng dù không thể chữa khỏi hẳn, việc điều trị vẫn có thể giúp giảm bớt triệu chứng, giảm khả năng tái phát và kéo dài thời gian không bị bệnh.

Nguyên nhân gây nhiệt miệng

Loét miệng aphthe (hay dân gian thường gọi là “nhiệt miệng”) là bệnh thường gặp. Tuy bệnh không nguy hiểm nhưng nó làm cho bệnh nhân đau đớn và ảnh hưởng đến sinh hoạt, ăn uống.

Loét aphthe là một bệnh không lây truyền, thường gặp ở phía trong miệng. Hiện nay, nguyên nhân gây bệnh chưa được biết rõ, tuy nhiên, các nhà nghiên cứu có đề cập đến vấn đề môi trường và di truyền, nhưng chưa được chứng minh. Ngoài ra, chấn thương miệng, rối loạn nội tiết do chu kỳ kinh nguyệt, stress, uống thuốc (bao gồm các thuốc kháng viêm như ibuprofen và các thuốc beta-blocker như atenolol), dị ứng với thực phẩm (chocolat, cà chua, hạt dẻ, các loại thực phẩm có vị chua như dứa và các chất bảo quản thực phẩm như benzoic acid và cinnamaldehyde), sử dụng kem đánh răng có chứa sodium lauryl sulfate, thiếu sắt, folic acid, hoặc vitamin B12, một số bệnh ở đường tiêu hóa… cũng được coi là yếu tố nguy cơ gây bệnh.

Điều trị loét aphthe

Dù không thể chữa khỏi hẳn nhưng việc điều trị vẫn có thể giúp giảm bớt triệu chứng, giảm khả năng tái phát và kéo dài thời gian không bị bệnh. Có thể sử dụng một số thuốc sau đây:

Nitrate bạc: Bôi trực tiếp lên tổn thương. Đã có những nghiên cứu ngẫu nhiên về hiệu quả của thuốc. Thuốc làm bớt đau ngay sau khi bôi và lành thương tổn trong vòng 3 – 5 ngày. Nhiều bệnh nhân không thích cảm giác nóng miệng sau khi bôi thuốc nhưng rất hài lòng khi hết đau hoàn toàn sau vài giờ.

Debacterol là phức hợp phenol sulfonate với sulfuric acid có tác dụng tương tự nitrate bạc. Đây là một hình thức đốt tiêu hủy vết loét bằng hóa chất. Cảm giác đau hầu như giảm ngay và vết thương sẽ lành sau 3 – 5 ngày. Thuốc bán theo toa và chỉ được dùng bởi nha sĩ hoặc bác sĩ. Thuốc chỉ được bôi 1 lần mỗi ngày.

Thuốc chỉ cung cấp theo toa bác sĩ nếu bệnh nhân chưa bớt sau khi sử dụng các thuốc thông thường:

Kem bôi có chứa triamcinolone acetonide: Thuốc được bôi ngày 3 lần, tốt nhất là sau bữa ăn chính và trước khi đi ngủ.

Amlexanox (aphthasol): Bôi ngày 4 lần, sau khi ăn và trước lúc ngủ. Chưa có nhiều bằng chứng về khả năng nhanh chóng làm giảm đau và lành loét của thuốc.

Dung dịch tetracycline (achromycin, nor-tet, panmycin, sumycin, tetracap) dùng súc miệng có thể giúp giảm đau và lành loét nhanh chóng. Tuy nhiên, thuốc không giúp ngăn ngừa tái phát. Khi dùng quá 5 ngày, thuốc có thể gây kích ứng và tạo điều kiện cho nấm phát triển.

Gel lidocaine: Gel 2% lidocaine bôi chỗ loét ngày 4 lần. Tránh nuốt thuốc sau khi bôi và không nên dùng quá 4 lần mỗi ngày để tránh độc tính.

Dung dịch sucralfate (thường được dùng trong loét tiêu hóa): Còn ít nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng sucralfate cho loét aphthe. Thường dùng bằng cách ngâm 1 viên thuốc vào 5-10ml (1-2 muỗng cà phê) nước. Bôi đều dung dịch lên niêm mạc miệng, để thuốc thấm vài phút rồi nhổ ra. Thực hiện 4 lần trong ngày.

Có thể dùng bổ sung nếu cơ thể người bệnh thiếu hụt folic acid, sắt hoặc vitamin B12. Cần uống nhiều tháng để tình trạng cải thiện.

Chlorhexidine (cyteal, eludril): Dung dịch súc miệng sát khuẩn giúp mau lành loét.

Corticosteroid: Đối với trường hợp thật nặng, bác sĩ có thể xem xét cho dùng corticosteroid đường uống sau khi cân nhắc giữa lợi ích và tác hại. Tác dụng phụ của thuốc bao gồm tăng cân, suy giảm miễn dịch, xương giòn dễ gãy, tăng tiết acid dẫn đến loét dạ dày…

Thalidomide (thalomid): Trường hợp bị bệnh rất nặng, bác sĩ có thể xem xét dùng thalidomide. Tuy nhiên do gây ra nhiều tác dụng phụ, thuốc chỉ được FDA chấp thuận sử dụng cho loét aphthe nặng ở bệnh nhân HIV dương tính.

Các thuốc có tiềm năng điều trị khác: Gồm các thuốc đã được dùng trong nhiều thử nghiệm như colchicine, pentoxifylline (trental), interferon, cimetidine (tagamet), clofazimine (lamprene), các tác nhân đối kháng TNF-a, infliximab (remicade), etanercept (enbrel), levamisole (ergamisol) và dapsone. Một số thuốc trong danh sách dài trên đây khá đắt tiền, gây nhiều phản ứng phụ nhưng lại chưa cho thấy hiệu quả rõ rệt.

Lưu ý: Để loại trừ các bệnh khác có triệu chứng giống loét aphthe, bệnh nhân cần đi khám bệnh ngay nếu: đó là đợt phát bệnh đầu tiên và chưa chắc chắn về mặt chẩn đoán; đau ngày càng nhiều và không kiểm soát được; bệnh nhân có tiêu chảy (có thể người bệnh đã mắc một bệnh hệ thống như bệnh Crohn hoặc bệnh viêm loét đại tràng); có những ổ loét ở vị trí khác ngoài miệng (có thể bệnh nhân đã mắc một bệnh hệ thống như hội chứng Behcet hoặc một bệnh lây truyền qua đường tình dục);  đối với các vết loét kéo dài trên 3 tuần.

Làm gì để phòng bệnh?

Nên tránh tất cả những nguyên nhân có thể gây chấn thương, dù rất nhẹ ở miệng như dùng bàn chải đánh răng hoặc các loại thức ăn cứng; tránh stress; không dùng kem đánh răng có chứa sodium lauryl sulfate nếu thường xuyên bị loét aphthe; không nên nói chuyện khi đang nhai; sửa chữa lại các bề mặt răng không đều; các yếu tố nội tiết đôi khi có thể kích hoạt một đợt bùng phát loét aphthe ở giai đoạn trước khi có kinh. Dùng thuốc tránh thai uống có thể giúp ích; bổ sung vào khẩu phần nếu bệnh nhân thiếu sắt, folic acid hoặc vitamin B12, tuy nhiên trong đa số thường hợp, điều này cũng không cải thiện tình trạng tái phát./.

(Theo Sức khỏe đời sống)

Thông tin sản phẩm: VNP Nhiệt miệng – Giải pháp tối ưu cho bệnh nhiệt miệng

Thành phần: Mỗi tube (10g) có chứa:

Chlorhexidine digluconate: 20mg

Tá dược vừa đủ: 10g

Công dụng:

Viêm quanh chân răng, những vết loét cục bộ trong miệng họng do nhiệt miệng, nhiễm khuẩn. Sát khuẩn trước và sau khi phẫu thuật nha khoa, sát khuẩn trong cấy Implant.

Phòng bệnh viêm lợi.

Được khử trùng trước và sau khi phẫu thuật nha khoa.

Hướng dẫn sử dụng:

Cho gel vào miếng gạc mềm sau đó xoa đều lên nướu răng hoặc có thể cho gel trực tiếp vào vùng nướu răng tổn thương, vùng miệng bị nhiệt. Dùng 2 lần hoặc 3 lần/ngày.

Nên sử dụng gel bôi sau bữa ăn và không dùng thức ăn hay nước uống ít nhất 30 phút – 1 giờ sau khi bôi.

Sử dụng buổi tối trước khi đi ngủ có hiệu quả cao nhất. Không được súc miệng sau khi dùng. Không được nuốt.

Lưu ý:

Không được sử dụng ở những người dị ứng với Chlorhexidine

Tác dụng không mong muốn: Trong một số trường hợp có thể làm giảm cảm giác vị giác tuy nhiên nó sẽ mất sau khi dùng.

Làm thay đổi màu răng sau khi sử dụng trong thời gian dài hay sau khi sử dụng thức ăn, đồ uống như: rượu, cà phê, thuốc lá. Tuy nhiên, sự thay đổi này chỉ là tạm thời và có thể hồi phục được.

Tư vấn sản phẩm: liên hệ số điện thoại 1900545518 (giờ hành chính) hoặc website vnp.com.vn

Tin bổ ích khác

Bí quyết ngăn ngừa loét miệng Loét miệng không phải bệnh nguy hiểm nhưng nó gây ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống hàng ngày. Khi bị loét miệng bạn cảm thấy rất khó chịu. Loét miện...
Viêm loét miệng – lưỡi: phòng bệnh hơn chữa ... Viêm loét miệng - lưỡi, hay bệnh nhiệt miệng, là bệnh khá phổ biến: có 10-20% dân số mắc bệnh này! Biểu hiện của bệnh là có một hay nhiều vết loét ở l...
Mẹo hay chữa bệnh nhiệt miệng Nhiệt miệng là một bệnh lý thuộc về răng miệng thường gây ra cảm giác đau đớn nhất là khi bạn há miệng hay khi nhai. Nhiệt miệng thường xuất hiện ở t...
Bài thuốc Đông y chữa nhiệt miệng Nhiệt miệng là chứng bệnh thường xảy ra vào mùa hè. Đông y cho rằng nguyên nhân là do nắng nóng kéo dài, nhiệt tích lại ở tỳ vị, âm dương mất cân bằng...
  • Nhiệt miệng là tên gọi theo dân gian , thực chất bệnh là viêm loét niêm mạc miệng do nhiều nguyên nhân khác nhau , thường là loét áp – tơ ( aphthous ulcer ) . Biểu hiện của bệnh là : trong niêm mạc miệng xuất hiện một hoặc nhiều đốm trắng to 1 – 2 mm , đốm trắng to dần hơi mọng nước , vài ngày sau đồng loạt vỡ ra tạo thành vết loét . Vết loét to dần , có khi tới 10 mm làm ảnh hưởng nhiều đến ăn uống sinh hoạt và giao tiếp . Nếu không có biến chứng vết loét tự lành sau 10 – 15 ngày rồi lại tái diễn đợt khác tương tự .

    Các vết loét trong miệng rất lâu lành là do thường xuyên bị chìm trong nước bọt và dịch thức ăn . Phương pháp chữa rất hiệu quả chứng bệnh này là : Dùng thuốc bôi trực tiếp lên vết loét , phối hợp 4 loại thuốc : Sulfamethoxazon , Trimethoprim , Serathiopeptit và hoạt chất tạo màng ngăn ( đây là chất dùng để bao bóng viên thuốc trước khi đóng vào vỉ ) , thuốc hoàn toàn là thuốc tây y , được lưu hành rộng rãi trên thị trường , thuốc là dạng bột nhưng vào trong miệng gặp nước tạo thành màng đủ sức chịu được sự tấn công của nước bọt từ 6 – 8 giờ , cứ 6 – 7 giờ bôi thuốc 1 lần sẽ tạo được màng ngăn cách vết loét với dịch khoang miệng ( tương tự như băng bó vết thương ở ngoài da ) , đồng thời thuốc có tính cản khuẩn – tiêu viêm – ngăn ngừa tái phát ( thuốc không có kháng sinh ) từ đó làm cho vết loét nhanh lành . Kết hợp điều trị bổ trợ bằng kháng sinh ( nếu cần ) , uống vitamin , cải thiện tình trạng cơ thể , xem xét và điều chỉnh chế độ ăn uống – sinh hoạt – lao động …
    Thực tế đã kiểm chứng : chỉ sau 6 – 7 lần bôi thuốc là đã lành vết loét , đặc biệt sau 1 – 2 lần bôi thuốc là ăn mặn đã không xót ( do thuốc tạo màng ngăn ) . Tiếp tục điều trị khi bệnh tái phát ( do đặc tính của bệnh là tái diễn từng đợt , chỉ bôi thuốc lúc bệnh có biểu hiện viêm loét ) thấy biểu hiện bệnh nhẹ và thưa dần rồi khỏi sau 4 – 5 đợt chữa toàn diện như trên .
    Đối với một số trường hợp bị rất nặng , vết loét to 1 – 1,5 cm , rất nhiều vết nhỏ , hoặc các vết loét tồn tại gần như thường xuyên thì phải uống thêm thuốc giải cơ địa tự miễn vì nguyên nhân chính gây nên bệnh là do cơ chế tự miễn . Thuốc sử dụng là : KetofHEXAN ( Ketotiphen fumarat 1,38 mg tương đương 1mg ketotiphen ) , đây là thuốc giải cơ địa tự miễn thường dùng để điều trị bệnh hen phế quản , viêm mũi dị ứng , mề đay … 3 ngày đầu mỗi ngày uống 1 viên , các ngày sau mỗi ngày uống 2 viên , thời gian uống kéo dài 1 tháng . Sau đó uống giảm liều xuống 1 viên / ngày , kéo dài 1 tuần , tiếp tục giảm liều cách ngày uống 1 viên , kéo dài 7 – 10 ngày rồi nghỉ hẳn . Trong quá trình dùng thuốc nếu thấy nổi mẩn ngứa ngoài da mức độ tăng dần thì có thể là dị ứng với thuốc này , ( triệu chứng này thường xuất hiện sau khi uống thuốc 5 – 7 ngày ) thì phải nghỉ thuốc .

    Riêng các lần tái phát sau không bôi thuốc ngay khi mới thấy vết loét mà để 2 – 3 ngày sau , khi đó vết loét rõ hẳn mới bôi thuốc thì tác dụng ngừa tái phát tốt hơn , còn tác dụng nhanh lành vết loét không thay đổi . Mỗi lần bôi thuốc không cần nhiều , chỉ bôi một lương thuốc vừa đủ kín vết loét , ngậm thuốc khoảng 1 5 – 20 phút , nếu nước bọt ứa ra nhiều thì nhẹ nhàng nhổ nước dãi và thuốc dư ra , nếu bình thường thì cứ sinh hoạt giao tiếp bình thường và sau 30 phút mới ăn uống . Không bôi thuốc thật nhiều vào rồi đi ngủ , vì khi ngủ không nuốt nước bọt làm màng tạo ra rất dày, nên lại không bám được vào chỗ loét từ đó làm cho thuốc không có tác dụng . Do vây nếu bôi thuốc vào buổi tối thì sau khi bôi được 2 giờ mới đi ngủ .

    Bác sỹ Đỗ Hữu Thảnh
    Mọi phản hồi xin được gửi về : ĐT 03503926483 – 01674198250 Email : [email protected] hoặc trang Web : http://nhietmieng.com/